Tính trong 08 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 40,6 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ.
Tính lũy kế đến ngày 30/08/2026, cả nước có 47.793 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 561,6 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 367,45 tỷ USD, bằng khoảng 65,4% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:
I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Tình hình thu hút ĐTNN 08 tháng năm 2026
1.1. Tình hình hoạt động
Vốn thực hiện:
Trong 08 tháng năm 2026, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ.
Tình hình xuất, nhập khẩu:
Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 300,3 tỷ USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ, chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 299,5 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ, chiếm 79,9% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 290,2 tỷ USD, tăng 40,1% so với cùng kỳ và chiếm 73% kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Tính chung trong 08 tháng năm 2026, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 10,1 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 9,3 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 30,5 tỷ USD.
1.2. Tình hình đăng ký
1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong 08 tháng năm 2026
08 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 40,6 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:
Đăng ký mới: Có 2.771 dự án đầu tư mới (tăng 9,4% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 21,7 tỷ USD (tăng 96,8% so với cùng kỳ).
Điều chỉnh vốn: Có 819 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 17,8% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 12,2 tỷ USD (tăng 14,7% so với cùng kỳ).
Góp vốn, mua cổ phần: Có 2.062 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 8,2% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 6,7 tỷ USD (tăng 50,1% so với cùng kỳ).
Theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 22 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 21 tỷ USD, chiếm 51,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 14,1% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Đáng chú ý, ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa vươn lên vị trí thứ ba với trên 3,29 tỷ USD (chiếm 8,1%) và ngành thông tin, truyền thông đứng vị trí thứ tư với 3,2 tỷ USD (chiếm 7,8%), hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đứng thứ năm với trên 3 tỷ USD (chiếm 7,5%).
Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ tiếp tục dẫn đầu về số dự án mới (1.197 dự án, chiếm 43% tổng số dự án) và số giao dịch GVMCP (803 giao dịch, chiếm 39% tổng số giao dịch). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn (476 lượt, chiếm 58% tổng số lượt điều chỉnh).
Cơ cấu thu hút FDI 08 tháng năm 2026 tiếp tục cho thấy dòng vốn tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, song đã xuất hiện thêm sự đa dạng hóa đáng kể sang các ngành hạ tầng năng lượng và công nghệ số nhờ một số dự án quy mô lớn, cho thấy tín hiệu tích cực về nâng cao chất lượng dòng vốn, dù vậy cần tiếp tục theo dõi tính bền vững của các mức tăng đột biến này.
Cơ cấu vốn ĐTNN 08 tháng năm 2026 theo ngành

Theo đối tác đầu tư:
Đã có 95 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 08 tháng năm 2026 (tăng so với 91 quốc gia của 07 tháng). Singapore tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 10,9 tỷ USD, chiếm 27% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 8,3 tỷ USD, chiếm 20,4% tổng vốn đầu tư.
Hồng Kông vươn lên vị trí thứ ba với trên 5,2 tỷ USD (chiếm 12,9%, tăng 185,4% so với cùng kỳ), vượt qua Trung Quốc (4 tỷ USD) và Malaysia (3 tỷ USD). Nhóm 5 đối tác dẫn đầu chiếm khoảng 78% tổng vốn đầu tư, mức độ tập trung đã giảm so với 79% của 7 tháng, cho thấy dòng vốn FDI có xu hướng đa dạng hóa hơn về đối tác, dù vẫn tập trung chủ yếu từ khu vực châu Á.
Xét về số lượng dự án, Trung Quốc tiếp tục là đối tác dẫn đầu về số dự án của ba hình thức, đầu tư mới (989 dự án), giao dịch GVMCP (585 giao dịch), tăng vốn (160 lượt điều chỉnh), tiếp tục cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc quan tâm mở rộng đầu tư tại Việt Nam trong bối cảnh đa dạng hóa chuỗi cung ứng.
ĐTNN 08 tháng năm 2026 theo đối tác

Xếp hạng vốn ĐTNN 08 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo đối tác
|
STT
|
Đối tác
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
Singapore
|
10.995,8
|
↑82,8%
|
↑0
|
|
2
|
Hàn Quốc
|
8.303,3
|
↑104,9%
|
↑0
|
|
3
|
Hồng Kông
|
5.245,2
|
↑185,4%
|
↑2
|
|
4
|
Trung Quốc
|
4.079,2
|
↑30,3%
|
↓1
|
|
5
|
Malaysia
|
3.039,5
|
↑86,5%
|
↑1
|
|
6
|
Nhật Bản
|
2.468,1
|
↑5,5%
|
↓2
|
|
7
|
Indonesia
|
1.747,4
|
↑16898,0%
|
↑27
|
|
8
|
Đài Loan
|
1.324,8
|
↓2,5%
|
↓1
|
|
9
|
Hà Lan
|
658,8
|
↑347,5%
|
↑7
|
|
10
|
Đan Mạch
|
401,8
|
↑378,9%
|
↑9
|
|
11
|
Các đối tác khác
|
2.361,7
|
↓18061,8%
|
|
|
Tổng số
|
40.625,5
|
↑55,4%
|
|
Theo địa bàn đầu tư:
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 30 tỉnh, thành phố trên cả nước. TP. Hồ Chí Minh vươn lên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 10,4 tỷ USD, chiếm 25,7% tổng vốn đầu tư đăng ký cả nước (tăng 138% so với cùng kỳ). Thái Nguyên đứng thứ hai với trên 8 tỷ USD, chiếm 19,8%.
Hà Nội đứng thứ ba với trên 3,7 tỷ USD (chiếm 9,2%, giảm 1,4% so cùng kỳ). Bắc Ninh đứng thứ tư với 3,4 tỷ USD (chiếm 8,5%, giảm 25,6% so cùng kỳ). Hải Phòng bứt phá lên vị trí thứ năm với trên 3 tỷ USD (chiếm 7,5%, tăng 77,8% so với cùng kỳ).
Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án cấp mới (1.399 dự án), điều chỉnh vốn (221 lượt) và GVMCP (1.394 lần góp). Mức độ tập trung vốn đã của các dự án FDI đã dần phân bổ đồng đều hơn giữa các địa phương theo thời gian thay vì tập trung cao tại TP.HCM và Thái Nguyên (45,6% tổng vốn đăng ký cả nước).
ĐTNN 08 tháng năm 2026 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 08 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo địa phương
|
STT
|
Địa phương
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
TP. Hồ Chí Minh
|
10.469,3
|
↑138,0%
|
↑1
|
|
2
|
Thái Nguyên
|
8.066,2
|
↑1963,0%
|
↑10
|
|
3
|
Hà Nội
|
3.751,7
|
↓1,4%
|
↑0
|
|
4
|
Bắc Ninh
|
3.481,1
|
↓25,6%
|
↓3
|
|
5
|
Hải Phòng
|
3.054,0
|
↑77,8%
|
↑0
|
|
6
|
Nghệ An
|
2.385,3
|
↑677,9%
|
↑8
|
|
7
|
Tây Ninh
|
1.579,1
|
↑1,1%
|
↓1
|
|
8
|
Ninh Bình
|
1.369,9
|
↓10,7%
|
↓1
|
|
9
|
Đồng Nai
|
1.289,4
|
↓51,4%
|
↓5
|
|
10
|
Phú Thọ
|
1.010,3
|
↑129,9%
|
↑1
|
|
11
|
Các địa phương khác
|
4.169,1
|
↓10,4%
|
|
|
Tổng số
|
40.625,5
|
↑55,4%
|
|
1.2.2. Tình hình đăng ký đầu tư trong riêng tháng 08 năm 2026
Trong riêng tháng 08 năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 2,5 tỷ USD, cụ thể:
Đăng ký mới: Có 342 dự án đầu tư mới, tổng vốn đăng ký mới đạt trên 668 triệu USD
Điều chỉnh vốn: Có 153 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư, tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 1,7 tỷ USD.
Góp vốn, mua cổ phần: Có 247 lần GVMCP của các nhà đầu tư nước ngoài, tổng giá trị vốn góp đạt 121 triệu USD.
2. Nhận xét về tình hình ĐTNN 08 tháng năm 2026
Về bức tranh kinh tế thế giới, theo cập nhật Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) tháng 7/2026 của IMF, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 được điều chỉnh giảm nhẹ xuống còn khoảng 3,0% (từ mức 3,3% dự báo hồi đầu năm), chủ yếu do tác động của xung đột tại Trung Đông và tình trạng phân mảnh thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, kinh tế thế giới cho thấy sức chống chịu tốt hơn dự kiến nhờ làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào trí tuệ nhân tạo (AI) bù đắp phần nào tác động tiêu cực từ nguồn cung năng lượng bị gián đoạn; lạm phát toàn cầu được dự báo tăng lên khoảng 4,7% trong năm 2026 do giá năng lượng cao hơn khoảng 25% so với trước khi xung đột nổ ra. Bối cảnh này tiếp tục đặt ra cả rủi ro lẫn cơ hội đan xen đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài toàn cầu.
Đối với chính sách thương mại của Hoa Kỳ, quá trình chuyển đổi cơ chế áp thuế đã có bước ngoặt rõ rệt trong 8 tháng qua. Sau khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ (tháng 2/2026) bác bỏ thẩm quyền áp thuế theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA), Hoa Kỳ chuyển sang áp mức thuế toàn cầu tạm thời 10-15% theo Mục 122 Đạo luật Thương mại 1974; đến cuối tháng 7/2026, khi cơ chế tạm thời này hết hiệu lực theo giới hạn 150 ngày, một lớp thuế mới theo Mục 301 (không có thời hạn chấm dứt) đã được áp dụng ngay với mức 10-12,5% đối với hàng hóa từ khoảng 60 nền kinh tế, trong đó Việt Nam nằm trong nhóm chịu mức 12,5% cộng thêm vào các dòng thuế hiện hành. Việc khung pháp lý liên tục thay đổi, thiếu ổn định lâu dài tiếp tục là nguồn bất định lớn đối với các tập đoàn đa quốc gia trong hoạch định chiến lược đầu tư và chuỗi cung ứng, khiến một bộ phận doanh nghiệp thận trọng chờ đợi trong khi bộ phận khác đẩy nhanh đa dạng hóa sản xuất ra ngoài Trung Quốc theo chiến lược "Trung Quốc + 1".
Về cạnh tranh thu hút đầu tư khu vực,[1] sức ép cạnh tranh với Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu. Thái Lan[2] ghi nhận hồ sơ đầu tư nửa đầu năm 2026 tăng 37% so với cùng kỳ lên 43,6 tỷ USD, riêng vốn FDI đăng ký tăng vọt 80% lên 40,5 tỷ USD, phần lớn nhờ làn sóng đầu tư hạ tầng số và trung tâm dữ liệu AI. Malaysia tiếp tục củng cố vị thế trung tâm dữ liệu và AI của khu vực tại Johor với hàng loạt cam kết đầu tư lớn từ các tập đoàn công nghệ toàn cầu. Trước sức ép này, Việt Nam cũng đang có những điều chỉnh chính sách theo hướng cạnh tranh hơn, Luật Đầu tư 2025 đã đơn giản hóa thủ tục phê duyệt, đồng thời mở "luồng xanh" nhằm đẩy nhanh các dự án công nghệ chiến lược như bán dẫn, AI và dữ liệu. Đây là những nỗ lực cần thiết để Việt Nam duy trì vị thế điểm đến ưu tiên, bên cạnh yêu cầu tiếp tục cải thiện nhanh hơn về hạ tầng điện, logistics và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tại Việt Nam, nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường chính trị - xã hội an toàn và mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng, Việt Nam tiếp tục là một trong những điểm đến an toàn từ xu hướng dịch chuyển này. Điều này thể hiện qua mức tăng trưởng vượt trội của vốn đăng ký mới và vốn thực hiện đạt mức cao nhất trong 5 năm qua, cho thấy bên cạnh những bất định từ bên ngoài, dòng vốn thực chất vào Việt Nam vẫn duy trì đà ổn định. Đáng chú ý, sau khi ghi nhận mức điều chỉnh giảm ròng trong tháng 7, vốn điều chỉnh đã phục hồi tăng trưởng trở lại trong tháng 8 (tăng 14,7%), cho thấy hoạt động mở rộng đầu tư của các dự án đang hoạt động có dấu hiệu tích cực trở lại. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi trong các tháng tiếp theo để đánh giá rõ hơn xu hướng mở rộng đầu tư của các nhà đầu tư hiện hữu
Về cơ cấu vốn, tổng vốn đăng ký 8 tháng đạt trên 40,6 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ; vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ. Trong đó, điểm nổi bật tiếp tục là mức tăng bứt phá của vốn đăng ký mới, đạt 21,71 tỷ USD (2.771 dự án, tăng 9,4% về số dự án và tăng tới 96,8% về vốn), khẳng định niềm tin ngày càng được củng cố của nhà đầu tư mới đối với môi trường đầu tư Việt Nam. Giá trị góp vốn, mua cổ phần đạt 6,7 tỷ USD, tăng 50,1% so với cùng kỳ, tuy có phần hạ nhiệt so với mức tăng của các tháng trước nhưng vẫn cho thấy hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tiếp tục sôi động. Vốn điều chỉnh đạt 12,2 tỷ USD, tăng 14,7% (819 lượt điều chỉnh, giảm 17,8% về số lượt), phục hồi so với mức tăng thấp của các tháng trước đó.
Về ngành, lĩnh vực, Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với trên 21,08 tỷ USD, chiếm 51,8% tổng vốn đăng ký, tăng 37,8% so với cùng kỳ, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm sản xuất của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực. Kinh doanh bất động sản đứng thứ hai (5,7 tỷ USD; chiếm 14,1% tổng vốn), tăng 5,9%. Đáng chú ý, ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa (3,29 tỷ USD, tăng gấp hơn 10 lần so với cùng kỳ) và thông tin, truyền thông (3,2 tỷ USD, tăng gấp gần 69 lần) tiếp tục ghi nhận mức tăng đột biến, chủ yếu do sự đóng góp của một số dự án quy mô lớn; đây là tín hiệu tích cực về đa dạng hóa cơ cấu ngành, song cần tiếp tục theo dõi khả năng triển khai và mức độ bền vững của dòng vốn. Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ (3,07 tỷ USD) duy trì đà tăng mạnh, tăng 113,4%.
Về đối tác, Singapore và Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu, đạt lần lượt 10,9 tỷ USD (tăng 82,8% so với cùng kỳ) và 8,3 tỷ USD (tăng 104,9% so với cùng kỳ). Hồng Kông tiếp tục giữ vị trí thứ ba với trên 5,2 tỷ USD (tăng 185,4%, gần gấp 3 lần), vượt qua Trung Quốc (4,07 tỷ USD, tăng 30,3%) và Malaysia (3,03 tỷ USD, tăng 86,5%) trong nhóm 5 đối tác lớn nhất. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu về số lượng dự án và giao dịch (989 dự án mới) cho thấy các nhà đầu tư Trung Quốc tiếp tục dành mức độ quan tâm lớn đối với thị trường Việt Nam, tuy nhiên, việc gia tăng số lượng trong lĩnh vực góp vốn, mua cổ phần cần được theo dõi sát để đánh giá tính ổn định của dòng vốn đầu tư. Mức độ tập trung của nhóm 5 đối tác hàng đầu giảm còn khoảng 78%, tiếp tục xu hướng đa dạng hóa đối tác dù khu vực châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Về địa bàn, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đầu với trên 10,4 tỷ USD (tăng 138% so với cùng kỳ), vượt qua Thái Nguyên (8,06 tỷ USD, tăng gần 20 lần chủ yếu do một vài dự án quy mô lớn). Tiếp theo là Hà Nội (3,75 tỷ USD, giảm nhẹ 1,4% so với nền cao của cùng kỳ), Bắc Ninh (3,48 tỷ USD, giảm 25,6%) và Hải Phòng (3,05 tỷ USD, tăng 77,8%). Mức độ tập trung vốn cao vào một số địa phương có hạ tầng công nghiệp, quỹ đất sẵn sàng tiếp tục cho thấy lợi thế cạnh tranh của các "cụm liên kết ngành" đã hình thành ổn định, song cũng tiềm ẩn rủi ro về sự thiếu cân bằng trong phân bổ dự án FDI trên toàn quốc.
Nhìn chung, kết quả thu hút đầu tư nước ngoài 08 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, với vốn đăng ký, vốn thực hiện và hoạt động góp vốn, mua cổ phần đều tăng trưởng, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam trong bối cảnh thương mại và địa chính trị toàn cầu còn nhiều bất định. Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được cấp phép, đồng thời nâng cao chất lượng thu hút FDI theo hướng ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, trung tâm R&D, kinh tế số, kinh tế xanh và phát triển bền vững; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là những định hướng lớn được xác định tại Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
3. Tình hình ĐTNN lũy kế tới hết tháng 08 năm 2026
Tính lũy kế đến ngày 30/08/2026, cả nước có 47.793 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 561,6 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 367,45 tỷ USD, bằng khoảng 65,4% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/22 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 344,3 tỷ USD (chiếm 61,3% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 88,5 tỷ USD (15,8%); sản xuất, phân phối điện với trên 45,7 tỷ USD (8,1%).
Theo đối tác đầu tư: có 154 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 102,7 tỷ USD (chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư), Singapore đứng thứ hai với trên 99,8 tỷ USD (17,8%). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan.
Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 34 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP. Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 149,1 tỷ USD (chiếm 26,6% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 51,7 tỷ USD (9,2%); Hải Phòng với trên 48,8 tỷ USD (8,7%).
II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
Trong 08 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 113 dự án mới và thực hiện 29 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 2,6 tỷ USD.
1. Tình hình ĐTRNN 08 tháng năm 2026
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 15 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành vận tải, kho bãi với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 601,6 triệu USD (chiếm 23% tổng vốn đầu tư) và ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt đứng thứ hai với trên 585,8 triệu USD (22,4%). Ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 516,6 triệu USD (19,7%).
Theo đối tác: Có 35 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 08 tháng năm 2026. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn đạt trên 486,5 triệu USD (chiếm 18,6% tổng vốn); Ấn Độ với số vốn trên 323,8 triệu USD (12,4%). Indonesia với số vốn trên 313,6 triệu USD (12%).
2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 08 năm 2026
Lũy kế đến hết tháng 08 năm 2026, Việt Nam đã có 2.080 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 26,4 tỷ USD. Trong đó:
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/22 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (trên 7 tỷ USD, chiếm 27% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,9 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 11% tổng vốn).
Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 08 năm 2026 Việt Nam đã đầu tư ra 88 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 7 tỷ USD, chiếm 26,7% tổng vốn); Campuchia (hơn 3,3 tỷ USD, chiếm 12,8% tổng vốn); Venezuela (trên 1,8 tỷ USD, chiếm 6,9% tổng vốn),…