BỘ TÀI CHÍNH
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
Thứ Tư, 15/07/2026
Đầu tư vào Việt Nam
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 06 tháng NĂM 2026
Thứ Ba, 14/07/2026 06:09
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT  ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 06 tháng NĂM 2026

Tính trong 06 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ.

Tính lũy kế đến ngày 30/06/2026, cả nước có 47.132 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 562,7 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 363,23 tỷ USD, bằng khoảng 64,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:

I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1. Tình hình thu hút ĐTNN 06 tháng năm 2026

1.1. Tình hình hoạt động

Vốn thực hiện:

Trong 06 tháng năm 2026, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được trên 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ.

Tình hình xuất, nhập khẩu:

Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 213 tỷ USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ, chiếm 79,9% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 212,2 tỷ USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ, chiếm 79,6% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 204,7 tỷ USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ và chiếm 72% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Tính chung trong 06 tháng năm 2026, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 8,2 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 7,5 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 24,9 tỷ USD.

1.2. Tình hình đăng ký

1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong 06 tháng năm 2026

06 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:

Đăng ký mới: Có 2.013 dự án đầu tư mới (tăng 1,3% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 17,3 tỷ USD (tăng 87,2% so với cùng kỳ).

Điều chỉnh vốn: Có 541 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 34,5% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 11 tỷ USD (tăng 23,5% so với cùng kỳ).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 1,446 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 15,3% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 6,2 tỷ USD (tăng 89,5% so với cùng kỳ).

Theo ngành

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 22 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,4 tỷ USD, chiếm 53,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,5 tỷ USD, chiếm 15,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa (3,1 tỷ USD), hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ (2,9 tỷ USD)…

Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ vươn lên dẫn đầu về số dự án mới (885 dự án) đồng thời dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (560 giao dịch). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn (313 lượt điều chỉnh).

Cơ cấu thu hút FDI trong 06 tháng năm 2026 tiếp tục cho thấy dòng vốn tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, phù hợp với định hướng phát triển Việt Nam thành trung tâm sản xuất trong chuỗi cung ứng khu vực. Bốn ngành có quy mô vốn lớn nhất gồm công nghiệp chế biến, chế tạo; kinh doanh bất động sản; sản xuất, phân phối điện, khí, nước; và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ chiếm khoảng 85% tổng vốn đăng ký, phản ánh dòng vốn vẫn tập trung vào các lĩnh vực sản xuất và hạ tầng.

Mặc dù bất động sản tiếp tục đứng thứ hai nhưng tỷ trọng chỉ còn khoảng 15,8%, trong khi các ngành sản xuất và hạ tầng năng lượng có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng của một số ngành vẫn chịu ảnh hưởng bởi các dự án quy mô lớn phát sinh trong kỳ, do đó cần tiếp tục theo dõi tiến độ triển khai và giải ngân để đánh giá tính ổn định của xu hướng này. 

 Cơ cấu vốn ĐTNN 06 tháng năm 2026 theo ngành

 

Theo đối tác đầu tư:

Đã có 85 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 06 tháng năm 2026. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 10 tỷ USD, chiếm 29,1% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 8 tỷ USD, chiếm 23,13% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Malaysia, Trung Quốc, Hồng Kông với số vốn lần lượt là 2,9 tỷ USD; 2,8 tỷ USD và 2,5 tỷ USD. Theo đó, xét 5 đối tác dẫn đầu đã chiếm khoảng 91% tổng vốn đầu tư, cho thấy dòng vốn FDI tiếp tục tập trung chủ yếu từ khu vực châu Á

Xét về số lượng dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (697 dự án) và số giao dịch GVMCP (393 giao dịch), số lượt điều chỉnh vốn (104 lượt điều chỉnh). Điều này cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc tiếp tục quan tâm mở rộng hoạt động đầu tư tại Việt Nam trong bối cảnh các doanh nghiệp quốc tế đẩy mạnh đa dạng hóa chuỗi cung ứng và địa điểm sản xuất.

Quy mô vốn bình quân của các dự án cấp mới còn ở mức khiêm tốn, phản ánh xu hướng đầu tư vào các dự án sản xuất, gia công và lắp ráp quy mô vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục theo dõi tình hình triển khai các dự án nhằm bảo đảm hoạt động đầu tư thực hiện đúng quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài.

ĐTNN 06 tháng năm 2026 theo đối tác

Xếp hạng vốn ĐTNN 06 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo đối tác

STT

Đối tác

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

Singapore

10,085.5

↑119.0%

↑0

2

Hàn Quốc

8,013.5

↑160.0%

↑0

3

Malaysia

2,980.7

↑87.4%

↑2

4

Trung Quốc

2,830.5

↑10.9%

↓1

5

Hồng Kông

2,542.8

↑110.4%

↑2

6

Nhật Bản

2,462.8

↑14.4%

↓2

7

Indonesia

1,747.0

↑29479.1%

↑26

8

Đài Loan

985.0

↓23.5%

↓2

9

Hà Lan

651.1

↑359.9%

↑7

10

Đan Mạch

391.7

↑366.8%

↑9

11

Các đối tác khác

1,962.4



Tổng số

34,653.0

↑61.0%


 

Theo địa bàn đầu tư:

Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 30 tỉnh, thành phố trên cả nước. Thái Nguyên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 8 tỷ USD, chiếm 23,2% tổng vốn đầu tư cả nước. TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với trên 7,8 tỷ USD, chiếm 22,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hà Nội đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,4 tỷ USD, chiếm 9,9% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Bắc Ninh, Ninh Bình, Nghệ An,…

      Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án cấp mới (1.044 dự án) và GVMCP (1.004 giao dịch), Bắc Ninh đứng đầu với số lượt dự án điều chỉnh vốn (153 lượt điều chỉnh). TP.HCM là cửa ngõ tiếp nhận các dòng vốn mới với đa dạng ngành nghề, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư sôi động cùng với đó, Bắc Ninh vẫn duy trì là trung tâm sản xuất của toàn quốc, điều này cho thấy dấu hiệu tích cực của các "cụm liên kết ngành" đã hình thành ổn định thay vì FDI dàn trải ngẫu nhiên. Tuy nhiên, các địa phương khác cũng cần nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút FDI.

ĐTNN 06 tháng năm 2026 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 06 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo địa phương

STT

Địa phương

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

Thái Nguyên

8,062.3

↑2847.1%

↑10

2

TP. Hồ Chí Minh

7,878.1

↑105.8%

↓1

3

Hà Nội

3,443.7

↓5.8%

↓1

4

Bắc Ninh

2,623.9

↓27.6%

↓1

5

Ninh Bình

2,308.2

↑53.2%

↑0

6

Nghệ An

2,282.6

↑1536.1%

↑11

7

Hải Phòng

1,866.7

↑48.7%

↓1

8

Tây Ninh

1,065.6

↓8.0%

↑0

9

Đồng Nai

908.7

↓53.6%

↓5

10

Hưng Yên

689.4

↓41.8%

↓3

11

Các địa phương khác

3,523.8

↑20.0%


Tổng số

34,653.0

↑61.0%

 

(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục II kèm theo báo cáo).

1.2.2. Tình hình đăng ký đầu tư trong riêng tháng 06 năm 2026

Trong riêng tháng 06 năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 9 tỷ USD, cụ thể:

Đăng ký mới: Có 437 dự án đầu tư mới (tăng 52,3% so với tháng 5/2026), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 2,5 tỷ USD (giảm 0,3% so với tháng 5/2026).

Điều chỉnh vốn: Có 126 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (tăng 35,5% so với tháng 5/2026), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 5,2 tỷ USD (tăng 102,1% so với tháng 5/2026).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 282 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (tăng 51,6% so với tháng 5/2026), tổng giá trị vốn góp đạt 2 tỷ USD (tăng 121,6% so với tháng 5/2026).

2. Nhận xét về tình hình ĐTNN 06 tháng năm 2026

Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài 06 tháng năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều rủi ro, xung đột địa chính trị tại Trung Đông, biến động giá năng lượng, chi phí logistics tăng cao, cùng xu hướng điều chỉnh chính sách thuế quan liên tục của Hoa Kỳ (chuyển từ cơ chế IEEPA sang Đạo luật Thương mại[1]) làm môi trường đầu tư quốc tế thiếu ổn định. Cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực ngày càng gay gắt, đặc biệt đối với các ngành bán dẫn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và năng lượng.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam duy trì nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục là điểm đến được ưu tiên trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Đặc biệt, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được ban hành đã xác định định hướng phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả, bền vững; tăng cường liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Đây là định hướng quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn FDI trong giai đoạn tới.

Về cơ cấu vốn, tổng vốn đăng ký đạt 34.6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ, vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%. Trong đó, điểm nổi bật của 06 tháng đầu năm là mức tăng mạnh của vốn đăng ký mới (87,2%) và giá trị góp vốn, mua cổ phần (89,5%), cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được duy trì, đồng thời hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp diễn ra sôi động hơn. Trong khi đó, vốn điều chỉnh tăng 23,5%, phản ánh các nhà đầu tư hiện hữu vẫn tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.

Về ngành, lĩnh vực, Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với trên  18,4 tỷ USD, chiếm 53,3% tổng vốn đăng ký, phù hợp với vai trò trung tâm sản xuất của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực. Kinh doanh bất động sản đứng thứ hai (5,5 tỷ USD) nhưng tỷ trọng đã giảm đáng kể so với các giai đoạn trước do sự cạnh tranh lớn từ các tập đoàn bất động sản trong nước. Các ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa (3.1 tỷ USD) và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ (2,9 tỷ USD) cũng ghi nhận mức tăng ổn định, song một phần chịu ảnh hưởng từ một số dự án quy mô lớn phát sinh trong kỳ.

Về đối tác, Singapore và Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu, đạt lần lượt trên 10 tỷ USD và 8 tỷ USD, Malaysia (2,9 tỷ USD) và Trung Quốc (2,8 tỷ USD), Hong Kong (2,5 tỷ USD) nằm trong nhóm 5 đối tác lớn nhất, đồng thời dẫn đầu về số lượng dự án và giao dịch, phản ánh rõ xu hướng dịch chuyển sản xuất, chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang Việt Nam. Cơ cấu này khẳng định dòng vốn từ khu vực châu Á tiếp tục giữ vai trò chủ đạo.

Về địa bàn, dòng vốn FDI tập trung cao tại một số địa phương, trong đó Thái Nguyên dẫn đầu trên 8 tỷ USD, chiếm 23,2% tổng vốn đăng ký, mức tập trung cao chủ yếu do một vài dự án quy mô rất lớn. Tiếp theo là TP. Hồ Chí Minh (7,8 tỷ USD), Hà Nội (3,4 tỷ USD), Bắc Ninh (2,6 tỷ USD). Mức độ tập trung này cho thấy lợi thế của các địa phương có hạ tầng công nghiệp, quỹ đất sẵn sàng, đồng thời cũng tiềm ẩn rủi ro về sự thiếu cân bằng trong phân bổ dự án FDI trên toàn quốc.

Nhìn chung, kết quả thu hút đầu tư nước ngoài 06 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực cả về quy mô vốn và cơ cấu đầu tư. Vốn đăng ký mới, vốn điều chỉnh và hoạt động góp vốn, mua cổ phần đều ghi nhận tăng trưởng, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được cấp phép, đồng thời nâng cao chất lượng thu hút FDI theo hướng ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, trung tâm R&D, kinh tế số, kinh tế xanh và phát triển bền vững; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là những định hướng lớn được xác định tại Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

3. Tình hình ĐTNN lũy kế tới hết tháng 06 năm 2026

Tính lũy kế đến ngày 30/06/2026, cả nước có 47.132 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 562,7 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 363,23 tỷ USD, bằng khoảng 64,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/22 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với gần 341,8 tỷ USD (chiếm 60,8% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 95 tỷ USD (16,9%); sản xuất, phân phối điện với trên 45,7 tỷ USD (8,1%).

Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 102,4 tỷ USD (chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư), Singapore đứng thứ hai với trên 98,8 tỷ USD (17,6%). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.

Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 34 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP. Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 153,2 tỷ USD (chiếm 27,2% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 50,8 tỷ USD (9%); Hải Phòng với trên 47,7 tỷ USD (8,5%).

 (Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục III kèm theo báo cáo)

II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

Trong 06 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 94 dự án mới và thực hiện 15 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 1,2 tỷ USD.  

1. Tình hình ĐTRNN 06 tháng năm 2026

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 17 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 294 triệu USD (chiếm 24,3% tổng vốn đầu tư) và ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt đứng thứ hai với trên 275,3 triệu USD (22,8%). Ngành xây dựng đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 179,4 triệu USD (14,8%).

Theo đối tác: Có 33 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 06 tháng năm 2026. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn đạt trên 324,7 triệu USD (chiếm 26,9% tổng vốn); Campuchia với số vốn trên 258,5 triệu USD (21,4%); Kyrgyzstan với số vốn trên 149,9 triệu USD (12,4%).

 2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 06 năm 2026

 Lũy kế đến hết tháng 06 năm 2026, Việt Nam đã có 2.075 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 25 tỷ USD. Trong đó:

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/22 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (trên 7 tỷ USD, chiếm 28% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,7 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).

Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 06 năm 2026 Việt Nam đã đầu tư ra 87 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,7 tỷ USD, chiếm 26,9% tổng vốn); Campuchia (hơn 3,1 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn); Venezuela (trên 1,8 tỷ USD, chiếm 7,3% tổng vốn),…

 


 

[1] https://globaltradealert.org/blog/from-ieepa-to-section-122


Số lượt đọc: 9
Thông báo