BỘ TÀI CHÍNH
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
Thứ Năm, 27/08/2026
Đầu tư vào Việt Nam
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 7 THÁNG NĂM 2026 VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP
Thứ Tư, 26/08/2026 01:52
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 7 THÁNG NĂM 2026 VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP

7 tháng năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0% so với cùng kỳ; vốn thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%. Điểm đáng chú ý là vốn đăng ký mới tăng 109,7% trong khi số dự án mới chỉ tăng 7,8%, cho thấy mức tăng chủ yếu đến từ quy mô vốn bình quân của dự án. Dòng vốn tiếp tục tập trung cao theo ngành, đối tác và địa phương; vì vậy, trọng tâm các tháng cuối năm cần chuyển mạnh sang thúc đẩy giải ngân, xử lý dự án điều chỉnh giảm vốn và nâng chất lượng liên kết FDI - doanh nghiệp trong nước.

 I. BỐI CẢNH

Trên thị trường quốc tế, cạnh tranh thu hút FDI trong ASEAN tiếp tục gia tăng. Theo Báo cáo Đầu tư ASEAN 2025, dòng vốn FDI vào ASEAN năm 2024 đạt 226 tỷ USD, tăng 8,5% so với năm 2023. Quy mô dòng vốn lớn của khu vực, cùng xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng và cạnh tranh về công nghệ, nhân lực, năng lượng sạch, đặt ra yêu cầu Việt Nam phải cải thiện đồng thời chất lượng thể chế và hệ sinh thái đầu tư thay vì chỉ cạnh tranh bằng ưu đãi chi phí.

Trong nước, định hướng chính sách FDI đang chuyển từ ưu tiên quy mô sang chất lượng và hiệu quả lan tỏa. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 thu hút khoảng 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký (40-50 tỷ USD/năm) và 150-200 tỷ USD vốn thực hiện (30-40 tỷ USD/năm), đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng tỷ trọng vốn từ các nền kinh tế phát triển, nâng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam và năng lực tiếp nhận dự án công nghệ cao. Nghị định 182/2024/NĐ-CP về Quỹ Hỗ trợ đầu tư và Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo thêm công cụ để cạnh tranh thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ, R&D và giá trị gia tăng cao.

Biểu đồ 1. FDI đăng ký 7 tháng 2026 so với mục tiêu bình quân năm giai đoạn 2026-2030. 

Với 38,06 tỷ USD sau 7 tháng, quy mô đăng ký đã tương đương khoảng 95,1% ngưỡng mục tiêu bình quân thấp (40 tỷ USD/năm) và 76,1% ngưỡng cao (50 tỷ USD/năm). Tuy nhiên, kết quả này chịu ảnh hưởng của một số dự án lớn nên chưa thể suy rộng trực tiếp cho cả năm.

II. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH

1. Kết quả chung

Biểu đồ 2. Quy mô vốn FDI 7 tháng 2025-2026 và mức tăng/giảm so với cùng kỳ.

Tổng vốn đăng ký 7 tháng đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 21,05 tỷ USD, tăng 109,7%; vốn điều chỉnh đạt 10,43 tỷ USD, tăng 4,4%; góp vốn, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD, tăng 61,6%. Vốn thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%.

Đáng chú ý, số dự án cấp mới chỉ tăng 7,8% nhưng vốn đăng ký mới tăng hơn gấp đôi. Quy mô đăng ký mới bình quân đạt khoảng 8,66 triệu USD/dự án, gần gấp đôi mức khoảng 4,45 triệu USD/dự án của cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy động lực tăng vốn mới chủ yếu đến từ quy mô dự án, không phải sự gia tăng mạnh về số lượng dự án.

Biểu đồ 3. Số dự án/giao dịch FDI 7 tháng 2025-2026 và mức tăng/giảm so với cùng kỳ. 

Biểu đồ 4. Biến động các cấu phần FDI trong tháng 6 và tháng 7/2026.

Riêng tháng 7, tổng vốn đăng ký đạt khoảng 3,40 tỷ USD, giảm 65,4% so với tháng 6. Tuy vậy, vốn đăng ký mới tăng 43,3% lên 3,66 tỷ USD; mức giảm tổng vốn chủ yếu do vốn điều chỉnh ghi nhận âm 614 triệu USD và giá trị góp vốn, mua cổ phần giảm mạnh. Vì vậy, số liệu tháng 7 phản ánh biến động của cấu phần điều chỉnh vốn nhiều hơn là sự suy giảm đồng loạt của hoạt động thu hút dự án mới.

2. Cơ cấu theo ngành

Biểu đồ 5. Sáu ngành dẫn đầu về tổng vốn đăng ký FDI 7 tháng 2026.

Công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với 18,68 tỷ USD, chiếm 49,1% tổng vốn. Tiếp theo là bất động sản 5,65 tỷ USD; sản xuất, phân phối điện, khí, nước 3,28 tỷ USD; thông tin và truyền thông 3,18 tỷ USD; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 3,00 tỷ USD; bán buôn, bán lẻ 2,40 tỷ USD. Sáu ngành này chiếm khoảng 95,1% tổng vốn đăng ký.

Cơ cấu trên cho thấy nền tảng sản xuất vẫn giữ vai trò chủ đạo, trong khi năng lượng, thông tin - truyền thông và khoa học - công nghệ nổi lên rõ hơn. Tuy nhiên, mức tập trung rất cao làm kết quả tổng thể nhạy cảm với việc cấp phép hoặc điều chỉnh một số dự án lớn; do đó khi đánh giá xu hướng cần theo dõi cả số dự án và tiến độ thực hiện, không chỉ tổng vốn đăng ký.

3. Cơ cấu theo đối tác

Biểu đồ 6. Tám đối tác dẫn đầu về tổng vốn đăng ký FDI 7 tháng 2026. 

Singapore dẫn đầu với 10,39 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc 8,23 tỷ USD, Hồng Kông 4,91 tỷ USD và Trung Quốc 3,69 tỷ USD. Bốn đối tác này chiếm khoảng 71,5% tổng vốn đăng ký. Mức tập trung cao tạo lợi thế từ các chuỗi cung ứng đã hình thành, nhưng cũng cho thấy nhu cầu đa dạng hóa nguồn vốn sang Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU và các nền kinh tế có thế mạnh công nghệ nguồn.

4. Cơ cấu theo địa phương

Biểu đồ 7. Mười địa phương dẫn đầu về tổng vốn đăng ký FDI 7 tháng 2026. 

TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu với 10,34 tỷ USD, Thái Nguyên đạt 8,07 tỷ USD, Hà Nội 3,62 tỷ USD và Bắc Ninh 3,23 tỷ USD. Bốn địa phương này chiếm khoảng 66,4% tổng vốn đăng ký. Điều này phản ánh hiệu ứng tích tụ của hạ tầng, khu công nghiệp, nguồn nhân lực và hệ sinh thái nhà cung ứng; đồng thời đặt ra yêu cầu mở rộng không gian tiếp nhận FDI sang các địa phương có tiềm năng nhưng quy mô thu hút còn thấp.

III. ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO

Kết quả thu hút FDI 7 tháng năm 2026 cho thấy ba điểm chính (i)Tăng trưởng FDI đăng ký được dẫn dắt mạnh bởi vốn mới và quy mô dự án, trong khi vốn thực hiện tăng với tốc độ ổn định hơn; (ii)Sự sụt giảm của riêng tháng 7 chủ yếu đến từ điều chỉnh vốn, nên chưa cho thấy xu hướng giảm của dự án cấp mới; (iii) Dòng vốn tập trung rất cao vào một số ngành, đối tác và địa phương, làm kết quả dễ biến động theo các dự án quy mô lớn.

Các nguyên nhân có thể bao gồm lợi thế từ mạng lưới FTA, xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, hệ sinh thái sản xuất đã tích lũy tại các trung tâm công nghiệp, cùng các chính sách mới hướng tới dự án công nghệ cao. Tuy nhiên, bộ số liệu không cung cấp thông tin chi tiết từng dự án nên các yếu tố này được xem là căn cứ giải thích xu hướng, không phải quan hệ nhân quả đã được kiểm định.

IV. GIẢI PHÁP

1. Thúc đẩy giải ngân và triển khai dự án hiện hữu. Rà soát các dự án vốn lớn nhưng giải ngân thấp; phân nhóm vướng mắc về đất đai, xây dựng, môi trường, năng lượng, hải quan và thủ tục đầu tư để xử lý theo đầu mối, rút ngắn thời gian từ cấp phép đến triển khai.

2. Theo dõi sát các dự án điều chỉnh vốn. Tháng 7 xuất hiện điều chỉnh vốn âm, do đó cần phân biệt trường hợp cơ cấu kỹ thuật với trường hợp thu hẹp hoạt động do khó khăn thị trường hoặc hạ tầng, từ đó có biện pháp hỗ trợ và cảnh báo sớm

3. Đa dạng hóa đối tác và nâng chất lượng xúc tiến đầu tư. Duy trì củng cố quan hệ đầu tư của Singapore, Hàn Quốc và các đối tác lớn, đồng thời tăng xúc tiến theo tập đoàn mục tiêu tại Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU và các nền kinh tế có công nghệ nguồn; ưu tiên bán dẫn, điện tử, AI, trung tâm dữ liệu, công nghệ xanh, năng lượng sạch và R&D.

4. Phát triển liên kết FDI - doanh nghiệp trong nước. Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, kết nối nhu cầu mua hàng của doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam; hỗ trợ tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị, chứng nhận quốc tế và đổi mới công nghệ để tăng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước.

5. Mở rộng không gian tiếp nhận FDI theo vùng. Tăng liên kết hạ tầng giao thông, logistics, điện và khu công nghiệp giữa các địa phương; xúc tiến theo cụm ngành và chuỗi giá trị thay vì cạnh tranh thu hút dự án riêng lẻ giữa các tỉnh.

6. Chuyển hệ thống đánh giá từ “vốn đăng ký” sang “hiệu quả thực”. Theo dõi đồng bộ vốn thực hiện, doanh thu, xuất khẩu, lao động, thuế, R&D, chuyển giao công nghệ và tỷ lệ mua đầu vào trong nước; gắn hỗ trợ đầu tư với kết quả thực tế và mức độ lan tỏa.

V. KẾT LUẬN

Bộ số liệu giả định cho thấy FDI 7 tháng năm 2026 có mức tăng cao, đặc biệt ở vốn đăng ký mới, nhưng đồng thời có độ tập trung lớn và biến động đáng kể giữa các cấu phần. Vì vậy, trọng tâm quản lý trong các tháng cuối năm cần thúc đẩy giải ngân, theo dõi chất lượng dự án, đa dạng hóa đối tác và địa bàn, đồng thời tăng khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Trong trung và dài hạn, mục tiêu phù hợp không chỉ là thu hút thêm vốn mà là xây dựng hệ sinh thái FDI gắn với công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh của nền kinh tế.


Số lượt đọc: 27
Thông báo