BỘ TÀI CHÍNH
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
Chủ Nhật, 17/05/2026
Đầu tư vào Việt Nam
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 04 THÁNG NĂM 2026
Thứ Tư, 13/05/2026 10:49
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT  ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 04 THÁNG NĂM 2026

Tính trong 04 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 18,7 tỷ USD, tăng 35,5% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ.

Tính lũy kế đến ngày 30/04/2026, cả nước có 46.534 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 543,1 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 357,641 tỷ USD, bằng khoảng 65,8% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:

I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1. Tình hình thu hút ĐTNN 04 tháng năm 2026

1.1. Tình hình hoạt động

Vốn thực hiện:

Trong 04 tháng năm 2026, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được trên 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ.

Tình hình xuất, nhập khẩu:

Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 134,87 tỷ USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ, chiếm 80,03% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 134,8 tỷ USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ, chiếm 79,9% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 126,3 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ và chiếm 72% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Tính chung trong 04 tháng năm 2026, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 8,5 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 8,4 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 15,6 tỷ USD.

 

 

 

1.2. Tình hình đăng ký

1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong 04 tháng năm 2026

Trong 04 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 18,7 tỷ USD, tăng 35,5% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:

Đăng ký mới: Có 1,289 dự án đầu tư mới (tăng 7,1% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 12,2 tỷ USD (tăng 119,6% so với cùng kỳ).

Điều chỉnh vốn: Có 322 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 40,4% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 3,1 tỷ USD (giảm 50,3% so với cùng kỳ).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 978 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 11,6% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 3,2 tỷ USD (tăng 79,2% so cùng kỳ).

Dự án nổi bật trong tháng 4: (i) Dự án sản xuất cực âm than chì nhân tạo Việt Nam của công ty POSCO FUTURE M CO., LTD (Hàn Quốc) với mục tiêu sản xuất cực âm than chì nhân tạo cho pin lithium-io có tổng vốn đăng ký đạt trên 282 triệu USD tại tỉnh Thái Nguyên; (ii) Nhà máy điện tử BYD Việt Nam (Hong Kong) tại tỉnh Phú Thọ tăng vốn 479,8 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư lên 890,8 triệu USD.

Theo ngành

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 22 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 11 tỷ USD, chiếm 58,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 2,4 tỷ USD, chiếm 12,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành bán buôn và bán lẻ (2 tỷ USD), hoạt động kinh doanh bất động sản (1,3 tỷ USD), thông tin và truyền thông (733,6 triệu USD)…

Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ vươn lên dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 42,8%), đồng thời dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 39,3%), Xét theo giá trị GVMCP, chiếm 57,9%. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn, chiếm 59%.

 

 

 

Cơ cấu vốn ĐTNN 04 tháng năm 2026 theo ngành

 

Theo đối tác đầu tư:

Đã có 75 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 04 tháng năm 2026. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 7,4 tỷ USD, chiếm 39,9% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 4,8 tỷ USD, chiếm 25,7% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Indonesia, Hồng Kông, Trung Quốc với số vốn lần lượt là 1,7 tỷ USD; 1,1 tỷ USD và 1 tỷ USD.

Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 33%), giao dịch GVMCP (chiếm 27%), Hàn Quốc đứng đầu về số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 22%).

ĐTNN 04 tháng năm 2026 theo đối tác

 

Xếp hạng vốn ĐTNN 04 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo đối tác

STT

Đối tác

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

Singapore

7,477.2

↑130.3%

↑0

2

Hàn Quốc

4,819.7

↑71.0%

↑0

3

Indonesia

1,739.0

↑282054.6%

↑43

4

Hồng Kông

1,155.9

↑25.0%

↑1

5

Trung Quốc

1,085.9

↓42.0%

↓2

6

Nhật Bản

617.8

↓61.2%

↓2

7

Hà Lan

527.0

↑418.8%

↑6

8

Bỉ

222.8

↑1338.4%

↑17

9

Thái Lan

132.1

↓73.9%

↓1

10

Đài Loan

128.5

↓83.8%

↓4

11

Các đối tác khác

822.4

 

 

Tổng số

18,728.2

↑35.5%

 

Theo địa bàn đầu tư:

Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 29 tỉnh, thành phố trên cả nước. Thái Nguyên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 6 tỷ USD, chiếm 32,4% tổng vốn đầu tư cả nước. TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với trên 3,9 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Nghệ An đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 2,3 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Bắc Ninh, Tây Ninh, Hà Nội…

          Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 53%) và GVMCP (chiếm 75%), Bắc Ninh đứng đầu với số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 30%).

ĐTNN 04 tháng năm 2026 theo địa phương

 

Xếp hạng vốn ĐTNN 04 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo địa phương

STT

Địa phương

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

Thái Nguyên

6,066.4

↑2310.0%

↑8

2

TP. Hồ Chí Minh

3,901.2

↑43.1%

↑0

3

Nghệ An

2,255.0

↑1764.0%

↑10

4

Bắc Ninh

1,405.1

↓52.7%

↓3

5

Tây Ninh

853.4

↑7.7%

↑2

6

Hà Nội

815.7

↓44.9%

↓2

7

Đồng Nai

764.8

↓56.0%

↓4

8

Phú Thọ

641.3

↑756.2%

↑9

9

Hà Tĩnh

412.6

↑3089.5%

↑14

10

Hưng Yên

252.5

↓56.2%

↓2

11

Các địa phương khác

1,360.2

Tổng số

18,728.2

↑35.5%

 

(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục II kèm theo báo cáo).

1.2.2. Tình hình đăng ký đầu tư trong tháng 04 năm 2026

Trong riêng tháng 04 năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 3,5 tỷ USD, giảm 61,5% so với tháng 3 năm 2026. Cụ thể:

Đăng ký mới: Có 385 dự án đầu tư mới (tăng 35,6% so với tháng 3/2026), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 2 tỷ USD (giảm 69,5% so với tháng 3/2026).

Điều chỉnh vốn: Có 71 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (bằng tháng 3/2026), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 873 triệu USD (tăng 181,8% so với tháng 3/2026).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 275 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (tăng 30,3% so với tháng 3/2026), tổng giá trị vốn góp đạt 610 triệu USD (giảm 71,8% so với tháng 3/2026).

2. Nhận xét về tình hình ĐTNN 04 tháng đầu năm 2026

Tình hình ĐTNN 04 tháng đầu năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều rủi ro. Xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng, chi phí logistics, lạm phát và xu hướng điều chỉnh chính sách thương mại, thuế quan, kiểm soát công nghệ của các nền kinh tế lớn tiếp tục ảnh hưởng đến quyết định đầu tư quốc tế. IMF nhận định tăng trưởng toàn cầu năm 2026 ở mức 3,1% trong điều kiện xung đột còn giới hạn, trong khi OECD cũng lưu ý giá năng lượng và bất định gia tăng đang tác động đến triển vọng kinh tế thế giới.

Trong nước, Việt Nam vẫn duy trì nền tảng vĩ mô tương đối ổn định, thị trường nội địa tiếp tục mở rộng, hoạt động sản xuất, xuất khẩu của khu vực FDI giữ vai trò lớn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, áp lực chi phí đầu vào, lạm phát, nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước và cạnh tranh thu hút đầu tư trong khu vực đang đặt ra yêu cầu phải tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường đầu tư, tháo gỡ vướng mắc dự án và nâng cao năng lực hấp thụ vốn của các địa phương.

Trong bối cảnh đó, thu hút ĐTNN vào Việt Nam trong 04 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần đạt trên 18,7 tỷ USD, tăng 35,5% so với cùng kỳ; vốn thực hiện đạt trên 7,4 tỷ USD, tăng 9,8%. Kết quả này cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến được nhà đầu tư nước ngoài quan tâm trong quá trình dịch chuyển, tái cấu trúc và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Thứ nhất, vốn thực hiện tiếp tục tăng là tín hiệu tích cực. Vốn giải ngân đạt trên 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ, cho thấy các dự án FDI đang hoạt động vẫn được triển khai tương đối ổn định. Đây là chỉ tiêu có ý nghĩa thực chất, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư và mức độ hiện thực hóa cam kết đầu tư tại Việt Nam. Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư quốc tế còn thận trọng, kết quả giải ngân tăng góp phần hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu, việc làm và tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, cơ cấu dòng vốn cho thấy xu hướng phân hóa rõ. Vốn đăng ký mới tăng mạnh, đạt trên 12,2 tỷ USD, tăng 119,6% so với cùng kỳ; số dự án mới tăng 7,1%. Điều này cho thấy dòng vốn mới tiếp tục vào Việt Nam, nhưng mức tăng về vốn chịu tác động lớn từ một số dự án quy mô lớn. Góp vốn, mua cổ phần giảm về số giao dịch nhưng tăng mạnh về giá trị, phản ánh xu hướng nhà đầu tư lựa chọn các thương vụ có quy mô lớn hơn hoặc có vị trí chiến lược hơn. Trong khi đó, vốn điều chỉnh giảm cả về số lượt và giá trị cho thấy một bộ phận doanh nghiệp FDI hiện hữu vẫn thận trọng trong kế hoạch mở rộng đầu tư ngắn hạn.

Thứ ba, cơ cấu đầu tư vẫn tập trung cao theo ngành, đối tác và địa bàn. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với trên 11 tỷ USD, chiếm khoảng 58,8% tổng vốn đăng ký. Ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đứng thứ hai, cho thấy nhu cầu đầu tư vào năng lượng và hạ tầng sản xuất vẫn lớn. Về đối tác, Singapore và Hàn Quốc tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư. Về địa bàn, Thái Nguyên, TP. Hồ Chí Minh và Nghệ An là các địa phương thu hút vốn lớn nhất trong 04 tháng đầu năm. Diễn biến này cho thấy các dự án lớn có ảnh hưởng rõ đến kết quả chung, đồng thời đặt ra yêu cầu mở rộng dư địa thu hút đầu tư tại các địa phương khác thông qua hạ tầng, quỹ đất, nguồn nhân lực, năng lượng và dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư.

Thứ tư, kết quả thu hút ĐTNN tích cực nhưng chưa đồng đều và chưa thật sự bền vững. Mặt tích cực là Việt Nam tiếp tục thu hút được dòng vốn mới, vốn thực hiện tăng và khu vực FDI duy trì đóng góp lớn vào xuất khẩu. Tuy nhiên, vốn điều chỉnh giảm, số giao dịch GVMCP giảm và kết quả thu hút vốn phụ thuộc nhiều vào một số dự án quy mô lớn. Điều này cho thấy tâm lý nhà đầu tư vẫn còn thận trọng, chưa chuyển hẳn sang xu hướng mở rộng đầu tư mạnh trên diện rộng.

Thứ năm, yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ thu hút theo số lượng sang chọn lọc và hỗ trợ triển khai thực chất. Cần tiếp tục ưu tiên các dự án có công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp trong nước, sử dụng năng lượng hiệu quả, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và có đóng góp ngân sách. Đồng thời, cần theo dõi sát các dự án quy mô lớn, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn về thủ tục, đất đai, hạ tầng, điện năng, lao động và logistics để đẩy nhanh giải ngân vốn đăng ký.

Nhìn chung, tình hình ĐTNN 04 tháng đầu năm 2026 cho thấy Việt Nam vẫn duy trì sức hút trong bối cảnh quốc tế còn bất định. Tuy nhiên, kết quả tích cực cần được đánh giá thận trọng do còn phụ thuộc vào một số dự án lớn và sự phân hóa giữa các dòng vốn. Trong thời gian tới, cần tiếp tục theo dõi sát biến động địa chính trị, giá năng lượng, chi phí logistics, chính sách thương mại, thuế quan và kiểm soát công nghệ của các nền kinh tế lớn; đồng thời tập trung cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng xúc tiến đầu tư, thúc đẩy giải ngân và tăng năng lực hấp thụ vốn của các địa phương.

3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 04 năm 2026

Tính lũy kế đến ngày 30/04/2026, cả nước có 46.534 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 543,1 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 357,641 tỷ USD, bằng khoảng 65,8% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/22 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với gần 334,8 tỷ USD (chiếm 61,6% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 80,6 tỷ USD (chiếm 14,9% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với trên 44,9 tỷ USD (chiếm 8,3% tổng vốn đầu tư).

Theo đối tác đầu tư: có 154 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 99,3 tỷ USD (chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với trên 96,6 tỷ USD (chiếm 17,8% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.

Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 34 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 143,2 tỷ USD (chiếm 26,4% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 49,6 tỷ USD (chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với trên 46 tỷ USD (chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư).

 (Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục III kèm theo báo cáo)

II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

Trong 04 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 74 dự án mới và thực hiện 04 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 713,8 triệu USD.  

1. Tình hình ĐTRNN 04 tháng năm 2026

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 163,7 triệu USD (chiếm 22,9% tổng vốn) và ngành Xây dựng đứng thứ hai với trên 153 triệu USD (chiếm 21,4% tổng vốn). Ngành vận tải kho bãi đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 149,1 triệu USD (chiếm 20,9% tổng vốn).

Theo đối tác: Có 32 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 04 tháng năm 2026. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn đạt trên 198 triệu USD (chiếm 27,7% tổng vốn); Kyrgyzstan với số vốn trên 149,9 triệu USD (chiếm 21% tổng vốn); Vương quốc Anh với số vốn trên 82,7 triệu USD (chiếm 11,6% tổng vốn).

 2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 04 năm 2026

 Lũy kế đến hết tháng 04 năm 2026, Việt Nam đã có 2065 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 24,6 tỷ USD. Trong đó:

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/22 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (trên 7 tỷ USD, chiếm 28,8% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn).

Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 04 năm 2026 Việt Nam đã đầu tư ra 88 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,6 tỷ USD, chiếm 26,8% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn); Venezuela (trên 1,8 tỷ USD, chiếm 7,4% tổng vốn),…

Số lượt đọc: 69
Thông báo