BỘ TÀI CHÍNH
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
Thứ Năm, 13/08/2026
Đầu tư vào Việt Nam
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 07 THÁNG NĂM 2026
Thứ Tư, 12/08/2026 08:49
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT  ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 07 THÁNG NĂM 2026

Tính trong 07 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 38,05 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ.

Tính lũy kế đến ngày 31/07/2026, cả nước có 47.512 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 559,2 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 365,4 tỷ USD, bằng khoảng 65,3% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:

I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1. Tình hình thu hút ĐTNN 07 tháng năm 2026

1.1. Tình hình hoạt động

Vốn thực hiện:

Trong 07 tháng năm 2026, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được trên 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ.

Tình hình xuất, nhập khẩu:

Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 255,8 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ, chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 255 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ, chiếm 79,8% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 247,9 tỷ USD, tăng 39,2% so với cùng kỳ và chiếm 73% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Tính chung trong 07 tháng năm 2026, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 7,9 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 7,1 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 28,5 tỷ USD. 

 

1.2. Tình hình đăng ký

1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong 07 tháng năm 2026

07 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 38,05 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:

Đăng ký mới: Có 2.429 dự án đầu tư mới (tăng 7,8% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 21 tỷ USD (tăng 109,7% so với cùng kỳ).

Điều chỉnh vốn: Có 666 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 27,6% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 10,4 tỷ USD (tăng 4,4% so với cùng kỳ).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 1.815 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 8,4% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 6,5 tỷ USD (tăng 61,6% so với cùng kỳ).

Theo ngành

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 22 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,68 tỷ USD, chiếm 49,1% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,65 tỷ USD, chiếm 14,9% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Đáng chú ý, ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa vươn lên vị trí thứ ba với 3,28 tỷ USD (chiếm 8,6%, tăng gần 10 lần so với cùng kỳ) và ngành thông tin, truyền thông bứt phá lên vị trí thứ tư với 3,18 tỷ USD (chiếm 8,4%, tăng hơn 80 lần so với cùng kỳ), hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đứng thứ năm với 2,9 tỷ USD (7,8%, tăng 138,7%).

Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ tiếp tục dẫn đầu về số dự án mới (1.055 dự án, chiếm 43% tổng số dự án) và số giao dịch GVMCP (692 giao dịch, chiếm 38% tổng số giao dịch). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn (374 lượt, chiếm 56% tổng số lượt điều chỉnh).

Cơ cấu thu hút FDI 07 tháng năm 2026 tiếp tục cho thấy dòng vốn tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, song đã xuất hiện thêm sự đa dạng hóa đáng kể sang các ngành hạ tầng năng lượng và công nghệ số nhờ một số dự án quy mô lớn, cho thấy tín hiệu tích cực về nâng cao chất lượng dòng vốn, dù vậy cần tiếp tục theo dõi tính bền vững của các mức tăng đột biến này.

 Cơ cấu vốn ĐTNN 07 tháng năm 2026 theo ngành

Theo đối tác đầu tư:

Đã có 91 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 07 tháng năm 2026 (tăng so với 85 quốc gia của 06 tháng). Singapore tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 10,3 tỷ USD, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 8,2 tỷ USD, chiếm 21,6% tổng vốn đầu tư.

Hồng Kông vươn lên vị trí thứ ba với 4,9 tỷ USD (chiếm 12,9%, tăng gần 300% so với cùng kỳ), vượt qua Trung Quốc (3,69 tỷ USD) và Malaysia (3,04 tỷ USD). Nhóm 5 đối tác dẫn đầu chiếm khoảng 79,5% tổng vốn đầu tư, mức độ tập trung đã giảm so với 91% của 6 tháng, cho thấy dòng vốn FDI có xu hướng đa dạng hóa hơn về đối tác, dù vẫn tập trung chủ yếu từ khu vực châu Á.

Trong 7 tháng năm 2026, Indonesia tạo bước tiến mạnh khi vươn lên đứng thứ 6 (tăng 30 bậc) do sức tăng mạnh từ giá trị giao dịch GVMCP của nhà đầu tư nước ngoài, điều này cho thấy xu hướng của các doanh nghiệp Indonesia lựa chọn phương thức GVMCP nhằm mở rộng nhanh chóng sự hiện diện tại thị trường Việt Nam, giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh tới mạng lưới khách hàng, hệ thống phân phối và cơ sở pháp lý sẵn có mà không phải xây dựng từ đầu. Đồng thời, trong bối cảnh dòng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tăng trưởng mạnh năm 2026, mặt bằng định giá tài sản và doanh nghiệp trong nước vẫn được đánh giá là tương đối hấp dẫn so với khu vực, tạo động lực để các nhà đầu tư Indonesia đẩy nhanh tiến độ giải ngân trước khi mặt bằng giá tiếp tục điều chỉnh tăng theo đà phục hồi chung của nền kinh tế.

Xét về số lượng dự án, Trung Quốc tiếp tục là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (849 dự án, chiếm 35% tổng số dự án) và số giao dịch GVMCP (494 giao dịch, chiếm 27% tổng số giao dịch); Hàn Quốc và Trung Quốc đồng dẫn đầu về số lượt điều chỉnh vốn (125 lượt), tiếp tục cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc quan tâm mở rộng đầu tư tại Việt Nam trong bối cảnh đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

ĐTNN 07 tháng năm 2026 theo đối tác

 

Xếp hạng vốn ĐTNN 07 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo đối tác

STT

Đối tác

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

Singapore

10,393.1

↑88.8%

↑0

2

Hàn Quốc

8,229.1

↑110.2%

↑0

3

Hồng Kông

4,908.2

↑297.4%

↑4

4

Trung Quốc

3,689.5

↑31.5%

↓1

5

Malaysia

3,039.1

↑87.4%

↑0

6

Indonesia

1,747.3

↑29248.9%

↑30

7

Nhật Bản

1,663.5

↓27.7%

↓3

8

Đài Loan

1,052.2

↓21.6%

↓2

9

Hà Lan

657.6

↑347.2%

↑7

10

Hoa Kỳ

437.6

↑67.9%

↑3

11

Các đối tác khác

2,240.6

Tổng số

38,057.9

↑58.0%

 

Theo địa bàn đầu tư:

Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 30/34 tỉnh, thành phố trên cả nước. TP. Hồ Chí Minh vươn lên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 10,3 tỷ USD, chiếm 27,1% tổng vốn đầu tư đăng ký cả nước (tăng 157,1% so với cùng kỳ). Thái Nguyên đứng thứ hai với trên 8 tỷ USD, chiếm 21,1%.

Hà Nội đứng thứ ba với gần 3,6 tỷ USD (chiếm 9,5%, giảm 3,8% so cùng kỳ). Bắc Ninh đứng thứ tư với 3,2 tỷ USD (chiếm 8,5%, giảm 19,6% so cùng kỳ). Nghệ An bứt phá lên vị trí thứ năm với 2,3 tỷ USD (chiếm 6,3%, tăng gần 680% so với cùng kỳ).

Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án cấp mới (1.235 dự án), điều chỉnh vốn (189 lượt) và GVMCP (1.224 giao dịch). Mức độ tập trung vốn cao tại TP.HCM và Thái Nguyên (gần 50% tổng vốn đăng ký cả nước) tiếp tục là vấn đề cần lưu ý trong định hướng phân bổ FDI đồng đều hơn giữa các địa phương.

ĐTNN 07 tháng năm 2026 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 07 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo địa phương

STT

Địa phương

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

TP. Hồ Chí Minh

10,343.9

↑157.1%

↑0

2

Thái Nguyên

8,066.2

↑2263.0%

↑11

3

Hà Nội

3,622.4

↓3.8%

↑0

4

Bắc Ninh

3,232.2

↓19.6%

↓2

5

Nghệ An

2,383.8

↑677.7%

↑9

6

Hải Phòng

1,977.8

↑31.6%

↑0

7

Tây Ninh

1,504.3

↑23.7%

↑1

8

Ninh Bình

1,307.8

↓13.9%

↓3

9

Đồng Nai

1,002.3

↓58.9%

↓5

10

Hưng Yên

722.2

↓45.9%

↓3

11

Các địa phương khác

3,895.0

Tổng số

38,057.9

↑58.0%

 

(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục II kèm theo báo cáo).

 

1.2.2. Tình hình đăng ký đầu tư trong riêng tháng 07 năm 2026

Trong riêng tháng 07 năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 9 tỷ USD, cụ thể:

Đăng ký mới: Có 416 dự án đầu tư mới (giảm 5% so với tháng 6/2026), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 3,6 tỷ USD (tăng 43% so với tháng 6/2026).

Điều chỉnh vốn: Có 125 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 1% so với tháng 6/2026), tổng vốn đầu tư tăng thêm giảm 614 triệu USD (giảm 112% so với tháng 6/2026).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 369 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (tăng 31% so với tháng 6/2026), tổng giá trị vốn góp đạt 363 triệu USD (giảm 82% so với tháng 6/2026).

2. Nhận xét về tình hình ĐTNN 07 tháng năm 2026

Bức tranh kinh tế - chính trị toàn cầu 07 tháng đầu năm 2026 tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, tạo ra cả áp lực lẫn cơ hội đan xen đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Về chính sách thương mại của Hoa Kỳ, việc chuyển đổi cơ chế áp thuế từ Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) sang Đạo luật Thương mại tiếp tục là nguồn bất định lớn nhất đối với các tập đoàn đa quốc gia trong việc hoạch định chiến lược đầu tư và chuỗi cung ứng. Sự thay đổi khung pháp lý này khiến nhiều doanh nghiệp phải rà soát lại các phương án đầu tư đã hoạch định, một số tạm hoãn quyết định đầu tư mới trong ngắn hạn để chờ mức thuế suất cụ thể được áp dụng theo cơ chế mới, trong khi một số khác lại coi đây là động lực để đẩy nhanh việc đa dạng hóa địa điểm sản xuất ra ngoài Trung Quốc nhằm giảm thiểu rủi ro thuế quan trong dài hạn.

Về xung đột địa chính trị tại Trung Đông và biến động giá năng lượng, tình hình bất ổn kéo dài đã đẩy chi phí vận tải, logistics và bảo hiểm hàng hải lên cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu vào của các dự án sản xuất, đặc biệt là các ngành phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện. Điều này khiến một bộ phận nhà đầu tư thận trọng hơn trong việc mở rộng quy mô dự án hiện hữu.

Về cạnh tranh thu hút đầu tư khu vực, các nền kinh tế trong khu vực (Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan...) đang đẩy mạnh các gói ưu đãi để thu hút dòng vốn dịch chuyển, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu và năng lượng tái tạo. Cuộc đua chính sách này đặt ra sức ép cạnh tranh ngày càng lớn đối với Việt Nam trong việc duy trì vị thế điểm đến ưu tiên, đòi hỏi tiếp tục cải thiện nhanh hơn về hạ tầng điện, logistics và nguồn nhân lực chất lượng cao để không bị tụt lại trong cuộc đua thu hút các dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn.

Về tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng, xu hướng chung của nhà đầu tư nước ngoài là chuyển từ tâm lý "chờ đợi, quan sát" sang từng bước "phân tán rủi ro" bằng chiến lược "Trung Quốc + 1" hoặc đa dạng hóa địa điểm sản xuất ra nhiều quốc gia thay vì tập trung vào một thị trường duy nhất.

Tại Việt Nam, với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường đầu tư thuận lợi và mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng khắp, tiếp tục được đánh giá là một trong những điểm đến hưởng lợi rõ nét nhất từ xu hướng dịch chuyển này. Điều này được minh chứng cụ thể qua mức tăng trưởng vượt trội của vốn đăng ký mới (109,7%) và giá trị góp vốn, mua cổ phần (61,6%) trong 07 tháng, hai chỉ tiêu phản ánh trực tiếp quyết định đầu tư mới và niềm tin của nhà đầu tư, cho thấy bất chấp những bất định từ bên ngoài, dòng vốn thực chất hướng vào Việt Nam vẫn duy trì đà mở rộng ổn định. Tuy nhiên, sự sụt giảm tốc độ tăng vốn điều chỉnh cũng là tín hiệu cần lưu ý, phản ánh một bộ phận nhà đầu tư hiện hữu có xu hướng thận trọng hơn trong ngắn hạn trước những biến động khó lường của môi trường thương mại quốc tế.

Về cơ cấu vốn, tổng vốn đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ, vốn thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%. Trong đó, điểm nổi bật của 07 tháng đầu năm là mức tăng bứt phá của vốn đăng ký mới (109,7%), tiếp tục tăng tốc so với mức 87,2% của 6 tháng, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư mới đối với môi trường đầu tư Việt Nam ngày càng được củng cố. Giá trị góp vốn, mua cổ phần vẫn tăng mạnh (61,6%) dù đã hạ nhiệt so với mức 89,5% của 6 tháng, cho thấy hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tiếp tục sôi động. Trong khi đó, vốn điều chỉnh chỉ còn tăng 4,4% (so với 23,5% của 6 tháng), do riêng tháng 7 ghi nhận mức điều chỉnh giảm ròng, phản ánh một bộ phận nhà đầu tư hiện hữu tạm thời thu hẹp quy mô hoạt động trong tháng.

Về cơ cấu ngành, dòng vốn FDI tiếp tục tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo với trên 18,68 tỷ USD, chiếm 49,1% tổng vốn đăng ký, tiếp tục khẳng định Việt Nam là cứ điểm sản xuất của nhiều tập đoàn quốc tế trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Bên cạnh đó, cơ cấu thu hút đầu tư có dấu hiệu đa dạng hơn khi các ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa và thông tin, truyền thông ghi nhận mức tăng mạnh nhờ một số dự án quy mô lớn được cấp phép trong kỳ. Đây là tín hiệu tích cực về xu hướng mở rộng dòng vốn sang các lĩnh vực hạ tầng và công nghệ, tuy nhiên cần tiếp tục theo dõi trong các kỳ tiếp theo để đánh giá tính ổn định và bền vững của xu hướng này.

Về đối tác, Singapore và Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu, đạt lần lượt trên 10,39 tỷ USD và 8,23 tỷ USD. Hồng Kông vươn lên vị trí thứ ba với 4,91 tỷ USD (tăng gần 300% so với cùng kỳ), vượt qua Trung Quốc (3,69 tỷ USD) và Malaysia (3,04 tỷ USD) trong nhóm 5 đối tác lớn nhất. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu về số lượng dự án và giao dịch, phản ánh rõ xu hướng dịch chuyển sản xuất, chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang Việt Nam. Mức độ tập trung của nhóm 5 đối tác hàng đầu đã giảm từ 91% (6 tháng) xuống còn khoảng 79,5%, cho thấy dòng vốn có xu hướng đa dạng hóa hơn về đối tác, dù khu vực châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo.

Về địa bàn, dòng vốn FDI có sự dịch chuyển đáng chú ý khi TP. Hồ Chí Minh vươn lên dẫn đầu với trên 10,34 tỷ USD (tăng 157,1% so với cùng kỳ), vượt qua Thái Nguyên (8,07 tỷ USD, tăng đột biến hơn 22 lần chủ yếu do một vài dự án quy mô rất lớn). Tiếp theo là Hà Nội (3,62 tỷ USD) và Bắc Ninh (3,23 tỷ USD). Mức độ tập trung vốn cao vào một số địa phương có hạ tầng công nghiệp, quỹ đất sẵn sàng tiếp tục cho thấy lợi thế cạnh tranh của các "cụm liên kết ngành" đã hình thành ổn định, song cũng tiềm ẩn rủi ro về sự thiếu cân bằng trong phân bổ dự án FDI trên toàn quốc.

Về hiệu quả hoạt động của khu vực FDI, vốn thực hiện tiếp tục duy trì đà tăng, xuất khẩu của khu vực FDI đạt trên 255,8 tỷ USD, chiếm khoảng 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và tiếp tục xuất siêu hơn 7,9 tỷ USD, cho thấy khu vực FDI vẫn giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng sản xuất, xuất khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam.

Nhìn chung, kết quả thu hút đầu tư nước ngoài trong 07 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực cả về quy mô vốn đăng ký và vốn thực hiện. Cơ cấu đầu tư tiếp tục tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo đồng thời bước đầu mở rộng sang các lĩnh vực hạ tầng và công nghệ. Trong thời gian tới, cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế và thương mại quốc tế để kịp thời đánh giá tác động đến dòng vốn FDI; đồng thời đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đã được cấp phép nhằm sớm chuyển hóa vốn đăng ký thành vốn thực hiện, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng thu hút FDI theo hướng ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, trung tâm R&D, kinh tế số, kinh tế xanh và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước, phù hợp với các định hướng tại Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

3. Tình hình ĐTNN lũy kế tới hết tháng 07 năm 2026

Tính lũy kế đến ngày 31/07/2026, cả nước có 47.512 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 559,2 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 365,4 tỷ USD, bằng khoảng 65,3% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/22 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 342 tỷ USD (chiếm 60,7% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 88,5 tỷ USD (15,8%); sản xuất, phân phối điện với trên 45,6 tỷ USD (8,2%).

Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 102,5 tỷ USD (chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư), Singapore đứng thứ hai với trên 99,2 tỷ USD (17,7%). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan.

Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 34 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP. Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 149 tỷ USD (chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 51,4 tỷ USD (9,2%); Hải Phòng với trên 47,8 tỷ USD (8,6%).

 (Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục III kèm theo báo cáo)

II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

Trong 07 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 94 dự án mới và thực hiện 15 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 1,2 tỷ USD.  

1. Tình hình ĐTRNN 07 tháng năm 2026

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 15 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành vận tải, kho bãi với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 601,6 triệu USD (chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư) và ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt đứng thứ hai với trên 585,8 triệu USD (24,8%). Ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 487,3 triệu USD (20,6%).

Theo đối tác: Có 35 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 07 tháng năm 2026. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn đạt trên 638,2 triệu USD (chiếm 27% tổng vốn); Campuchia với số vốn trên 449,8 triệu USD (19%); Indonesia với số vốn trên 308,6 triệu USD (13,1%).

 2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 07 năm 2026

 Lũy kế đến hết tháng 07 năm 2026, Việt Nam đã có 2.075 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 26,1 tỷ USD. Trong đó:

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/22 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (trên 7 tỷ USD, chiếm 27% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,8 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 11% tổng vốn).

Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 07 năm 2026 Việt Nam đã đầu tư ra 88 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 7 tỷ USD, chiếm 26,9% tổng vốn); Campuchia (hơn 3,3 tỷ USD, chiếm 12,9% tổng vốn); Venezuela (trên 1,8 tỷ USD, chiếm 7% tổng vốn),…

Số lượt đọc: 61
Thông báo