BỘ TÀI CHÍNH
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
Thứ Năm, 27/08/2026
Thông tin tham khảo
NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI KHU VỰC FDI
Thứ Tư, 26/08/2026 09:01
NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI KHU VỰC FDI

Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2026 duy trì ổn định nhưng cấu trúc tăng trưởng cho thấy biến động đáng kể giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Theo số liệu từ Cục Thống kê, 6 tháng đầu năm tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ; xuất khẩu tăng 21,0% trong khi nhập khẩu tăng 33,4%, khiến cán cân thương mại chuyển từ xuất siêu 7,95 tỷ USD cùng kỳ năm 2025 sang nhập siêu 16,65 tỷ USD. Diễn biến này không chỉ phản ánh xu hướng nhập khẩu tăng mà còn cho thấy nhu cầu đ


Khu vực FDI là nhân tố nổi bật trong xu hướng trên. Số liệu 06 tháng của Cục Thống kê cho thấy khu vực FDI chiếm 79,9% kim ngạch xuất khẩu và có tốc độ tăng nhập khẩu 37,3%, cao hơn mức tăng xuất khẩu 26,0%. Xu hướng này tiếp tục thể hiện trong báo cáo FDI tháng 7/2026: xuất khẩu khu vực FDI 7 tháng đạt khoảng 257,31 tỷ USD, tăng 27,1%, trong khi nhập khẩu đạt 248,56 tỷ USD, tăng 39,6%; khu vực này vẫn xuất siêu khoảng 8,75 tỷ USD nhưng chênh lệch tốc độ tăng giữa nhập khẩu và xuất khẩu đã lên khoảng 12,5 điểm phần trăm. Đặt cạnh việc vốn FDI đăng ký mới tăng 109,7% và chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về thu hút vốn, có thể nhận định một phần mức tăng nhập khẩu đang gắn với quá trình mở rộng năng lực sản xuất của khu vực FDI.


Cơ cấu hàng nhập khẩu củng cố nhận định này. Bộ Công Thương cho biết 94,1% kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm thuộc nhóm tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng chiếm 56,0%, nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,1%. Nhập khẩu tăng chủ yếu ở nhóm tư liệu sản xuất, cho thấy nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục gia tăng, qua đó tạo nguồn đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu trong thời gian tới. Tuy nhiên, nếu nhập khẩu đầu vào duy trì tốc độ cao trong khi năng lực cung ứng trong nước còn hạn chế, tăng trưởng xuất khẩu sẽ tiếp tục phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu và linh kiện từ bên ngoài, hạn chế phần giá trị gia tăng trong nền kinh tế.


So sánh với một số nền kinh tế trong khu vực ASEAN cho thấy Việt Nam đang có tốc độ mở rộng thương mại cao nhưng cấu trúc tăng trưởng khác biệt. Theo số liệu của Cơ quan Phát triển Ngoại thương Malaysia (MATRADE), trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của Malaysia tăng 27,5%, nhập khẩu tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2025; cán cân thương mại thặng dư 147,15 tỷ ringgit. Tại Singapore, theo số liệu của Enterprise Singapore, trong tháng 6/2026, tổng kim ngạch thương mại hàng hóa tăng 49,3% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, thương mại các sản phẩm điện tử tiếp tục tăng, chủ yếu do nhu cầu đối với các sản phẩm liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI). Tại Indonesia, theo số liệu của Cơ quan Thống kê Indonesia (BPS), trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tăng 3,02%, trong khi nhập khẩu tăng 15,24% so với cùng kỳ năm 2025. Như vậy, xu hướng nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu không chỉ xuất hiện ở Việt Nam; tuy nhiên, trường hợp Malaysia cho thấy lợi thế rõ hơn khi tăng trưởng xuất khẩu được dẫn dắt bởi các ngành điện - điện tử và bán dẫn có giá trị cao, trong khi vẫn duy trì thặng dư thương mại.Đáng chú ý, kết quả xuất khẩu của Malaysia phần lớn đến từ sự phát triển của ngành điện, điện tử và bán dẫn, với sự hiện diện của nhiều dự án đầu tư quy mô lớn. Theo Cơ quan Phát triển Đầu tư Malaysia (MIDA), Intel Corporation đã đầu tư 7 tỷ USD vào các cơ sở đóng gói bán dẫn tiên tiến tại Penang; Infineon Technologies triển khai dự án nhà máy sản xuất bán dẫn công suất silicon carbide (SiC) 200 mm tại Kulim, Kedah với tổng vốn đầu tư 7 tỷ EUR, trong đó vốn đầu tư bổ sung cho giai đoạn 2 là 5 tỷ EUR (tương đương 30,1 tỷ ringgit). Các dự án này góp phần tăng cường năng lực sản xuất, đóng gói bán dẫn và vị trí của Malaysia trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu.


Đáng chú ý, cạnh tranh thương mại trong ASEAN đang ngày càng gắn với năng lực công nghiệp và vị trí trong chuỗi cung ứng công nghệ. Theo số liệu từ chính phủ Malaysia, tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 phần lớn đến từ các sản phẩm điện - điện tử, bán dẫn phục vụ hạ tầng AI; Singapore cũng ghi nhận điện tử là động lực chính của tăng trưởng xuất khẩu phi dầu mỏ. Trong khi đó, Việt Nam có lợi thế về quy mô sản xuất, dòng vốn FDI mới và mạng lưới FTA, nhưng mức đóng góp của xuất khẩu còn hạn chế  với tốc độ gia tăng nhập khẩu và nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất lớn cho thấy năng lực cung ứng đầu vào trong nước vẫn là điểm cần cải thiện. Điều này phù hợp với việc Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026–2035, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa của một số ngành công nghiệp chủ lực lên 40–45% vào năm 2030.


Nhìn chung, triển vọng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong các tháng cuối năm vẫn duy trì ổn định nhờ sản xuất chế biến, chế tạo tiếp tục mở rộng, FDI đăng ký mới tăng mạnh và nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất ở mức cao. Tuy nhiên, chất lượng của xu hướng này cần được đánh giá không chỉ bằng tốc độ tăng kim ngạch. Vấn đề trọng tâm là khả năng chuyển lượng vốn FDI và nhập khẩu máy móc, nguyên liệu hiện nay thành năng lực sản xuất, xuất khẩu và giá trị gia tăng trong nước trong các kỳ tiếp theo. Do đó, bên cạnh đa dạng hóa thị trường và tận dụng FTA, cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, tăng kết nối doanh nghiệp Việt Nam với chuỗi cung ứng FDI và thu hút sâu hơn các khâu công nghệ, R&D và sản xuất linh kiện. Đây sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam chuyển từ tăng trưởng thương mại dựa nhiều vào quy mô sang tăng trưởng dựa trên giá trị và năng lực nội sinh.




Số lượt đọc: 13
Thông báo